Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011
CHĂM SÓC SỨC KHỎE: Chống máu vón cục bằng... chuối
Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011
CHĂM SÓC SỨC KHỎE: Ngăn Chặn Biến Chứng Trong Bệnh Tiểu Đường
CHĂM SÓC SỨC KHỎE: Đối phó với say tàu, xe
Tết là thời điểm mọi người đi lại nhiều nhất trong năm và đây cũng là vấn đề đáng ngại đối với những người bị say tàu xe, đặc biệt là trẻ em.
Thấy tàu xe là nôn
Theo bác sĩ Nguyễn Đại Biên- Trưởng khoa Khám bệnh, BV Nhân dân 115 say tàu xe từ lâu đã trở thành “căn bệnh” phổ biến trong dân chúng. Trong một nghiên cứu lớn tại Ấn Độ, tỷ lệ hành khách mắc chứng say tàu xe là 28% trong đó nữ bị nhiều hơn nam. Một nghiên cứu trên 20.029 hành khách đi tàu cho thấy có 7% bị nôn mửa, 21% thấy khó chịu, 4% thấy rất mệt mỏi và 4% đổ bệnh thực sự. Theo các bác sĩ không chỉ tàu xe, nhiều người đi máy bay cũng bị nôn ói do say. Bác sĩ Đại Biên cho biết, đối tượng dễ bị say tàu xe nhiều là trẻ em tuổi từ 2 - 12, phụ nữ đặc biệt trong thời kỳ mang thai, hành kinh, hoặc sử dụng nội tiết tố, bệnh nhân bị chứng đau nửa đầu, người tâm lý yếu nghĩ rằng mình dễ say tàu xe.
“Say tàu xe là một rối loạn của tai trong gây ra bởi sự chuyển động. Não cảm nhận sự chuyển động thông qua ba con đường khác nhau của hệ thần kinh gửi tín hiệu đến từ tai trong và cơ thể. Khi đi tàu xe, máy bay, do có sự chuyển động, bộ phận tai trong gồm ốc tai, tiền đình ở một số người nhạy cảm bị kích thích không tương hợp với mắt nhìn sự chuyển động (mắt thấy được sự chuyển động nhưng tai trong truyền tín hiệu cho bộ não rằng không có chuyển động) tác động đến dạ dày khiến cho tình trạng say tàu xe diễn ra”- bác sĩ Nguyễn Đại Biên giải thích. Ngoài ra theo bác sĩ Biên một phần do yếu tố tâm lý của người đi xe, mùi thức ăn, mùi xăng dầu, đọc sách trên xe... Những người vốn có chứng say tàu xe chỉ cần nhìn thấy chưa cần bước lên đã thấy xây xẩm, muốn nôn oẹ. Thống kê tại Việt
Say tàu xe mỗi lần đi lại dịp Tết là nỗi ám ảnh của nhiều người.
Xử lý như thế nào?
Mặc dù say tàu xe diễn ra phổ biến nhưng rất ít người biết cách phòng ngừa sau tàu xe, nhất là trong trường hợp dùng thuốc. Theo bác sĩ Đại Biên việc xử trí say tàu xe hiện nay thường bằng thuốc. Theo đó có hai cách là dùng miếng dán sau tai và thuốc viên uống, tốt nhất nên sử dụng thuốc chống say tàu xe có tác dụng thời gian ngắn 4-6 tiếng.
Ngoài ra có thể dùng các biện pháp tự nhiên sau để phòng chống nôn, say tàu xe như trước khi lên tàu xe uống ¼ chén nước cốt gừng tươi, ngậm một lát gừng tươi… hoặc khoai lang, vỏ cam quýt cũng có thể day ấn huyệt. Đồng thời, tránh ăn uống quá nhiều bia rượu và thức ăn nặng mùi có chứa nhiều gia vị, hoặc các loại thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ; không nên ngồi đối diện với hướng xe chạy hoặc nhìn ra phía sau…. Nếu phải di chuyển trong thời gian lâu thì nên tìm chỗ ngồi phía giữa thân tàu vì chỗ này ít bị chòng chành nhất; ngồi cạnh cửa sổ, mở cửa kính để có gió. (Theo Báo Thanh Niên)
Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011
PHƯƠNG THUỐC THIÊN NHIÊN: Lợi ích từ quả ổi
Lợi ích từ quả ổi
Ngoài hương vị độc đáo “pha trộn” giữa hương đào và dâu tây, ổi là một trong những loại trái cây nhiệt đới giàu vitamin C nhất.
Ổi (Psidium guajava) là loài cây ăn quả cao từ 3-6m, thường xanh lâu năm, thuộc họ đào kim nương, có nguồn gốc từ

Ổi được đưa vào danh sách ăn kiêng bởi chỉ có 33 kcal/100g. Giàu khoáng chất như can xi, ma giê, sắt và nhiều nhất là potassium nên có tác dụng lợi niệu. Chất xơ của ổi được hấp thụ rất tốt bởi đường ruột yếu và là thành phần kích thích chuyển hóa ruột nên tốt cho quá trình bài tiết chất thải. Ổi là thực phẩm giàu chất thô, không có cholesterol và ít carbohydrate khiến bạn có cảm giác ngon miệng và no lâu, rất hữu hiệu trong việc ăn kiêng.
Không phải là trái cây chua nhưng ổi chín có hàm lượng vitamin C cao, trung bình từ 243 mg/100g, đôi khi lên đến 900 mg/100g. Như vậy, chỉ với một miếng ổi khoảng 40g, chúng ta đã tạm đủ nhu cầu vitamin C hằng ngày được khuyên. Song song đó ổi còn chứa nhiều vitamin: A, B1, B2, B3, PP.
Tính năng trị liệu
Theo dân gian, nhai lá ổi hoặc ăn ổi sống có thể làm nướu răng chắc khỏe hơn và răng sáng hơn. Ngoài ra ổi còn có khả năng khử trùng, chống vi khuẩn, giúp chữa bệnh kiết lỵ và loại bỏ chất nhờn thừa từ ruột. Ổi có thể được dùng trong điều trị viêm dạ dày và ruột; chống táo bón; nhuận tràng (nước ép ổi giúp làm sạch đường ruột và hệ thống bài tiết hoàn toàn).
Ngoài ra, nước ép ổi tự nhiên hoặc lá ổi sắc còn rất hữu ích trong việc chống ho, cảm lạnh bằng cách làm thưa các cơn ho, giảm chất nhờn, khử trùng đường hô hấp, ức chế hoạt động của vi sinh vật trong họng và phổi. Ổi cũng góp vai trò quan trọng làm giảm huyết áp; kiểm soát bệnh tiểu đường. Về phương diện thẩm mỹ, nước quả ổi giúp tươi mới làn da, chống lão hóa, ngăn ngừa nếp nhăn và các rối loạn khác về da.
Chọn quả ổi có vỏ bóng láng, mềm mại nhưng không nhũn, vỏ càng ít tì vết càng tốt. Bảo quản ổi trong tủ lạnh không quá 2 ngày vì nếu để lâu hơn, ổi sẽ trở nên chát và cứng.
Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011
PHƯƠNG THUỐC THIÊN NHIÊN: Đậu bắp đa công dụng
Đậu bắp đa công dụng
Đậu bắp có mặt trong nhiều món ăn, từ chay đến mặn và cả làm “mồi” nhậu cho quý ông. Nếu nhìn ở khía cạnh món ăn bài thuốc, đậu bắp có khá nhiều công dụng.
Đậu bắp chứa nhiều axit folic, vì vậy, đây là món thai phụ nên dùng để phòng ngừa khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi. Bà bầu nên chọn các món ăn với đậu bắp nhưng phong phú về nguyên liệu như: canh chua có nguyên liệu đậu bắp, đậu bắp xào tôm, đậu bắp tẩm bột chiên giòn ăn với rau xà lách, lẩu ăn với đậu bắp… Đậu bắp còn được xem như mỹ phẩm giúp đẹp da, mượt tóc, giữ vẻ trẻ trung cho đôi mắt, tăng cường sức khỏe nhờ bên trong thân hình “nhỏ con” chứa nhiều vitamin A, vitamin C, canxi, kali, magiê. Để đạt được công dụng làm đẹp, cần ăn các món hơi “mầu mỡ” một chút như: đậu bắp hấp mỡ hành, đậu bắp xào, đậu bắp hấp chấm kho quẹt…
Bên cạnh những công dụng có lợi nêu trên, “khuyết điểm” của đậu bắp là làm “lạnh” bụng.
Theo lương y Đinh Công Bảy - Hội Dược liệu TP.HCM thì những người bị tiểu đường, mỡ trong máu cao nên thường xuyên dùng đậu bắp. Chất xơ trong đậu bắp giúp giảm lượng mỡ trong hệ thống ống tiêu hóa, giúp đường hấp thu vào máu chậm. Như vậy, để đậu bắp có thể “hoàn thành nhiệm vụ”, những ai có mỡ trong máu, tiểu đường cần ăn đậu bắp luộc, hấp; không ăn đậu bắp tẩm bột chiên giòn, đậu bắp xào. Nước đậu bắp luộc dùng để uống cũng có công dụng tương tự.
Đậu bắp chứa nhiều chất xơ. Trái đậu bắp khi cắt ra khá nhớt, phần nhớt đó chứa xơ dạng hòa tan, còn “thân hình” và hạt đậu bắp chứa xơ không hòa tan. Các nhà khoa học sau khi “cân đo” đã cho đáp số: một chén đậu bắp nấu chín có thể cung cấp khoảng 4g chất xơ. Vì vậy, khi ăn các món nướng như: sườn nướng, xúc xích nướng, nên tiện tay nướng thêm ít trái đậu bắp ăn kèm, vừa ngon miệng, không ngán, lại giúp cho việc tiêu hóa thuận lợi. Những ai thường xuyên bị táo bón nên dùng thử đậu bắp. Sau khi dùng khoảng hai ngày sẽ thấy hiệu quả. Tuy nhiên, để loại trừ táo bón, không nên “ưu ái” một mình đậu bắp mà nên ăn thay đổi cùng các món nhuận tràng khác như: khoai lang, đu đủ, bí đỏ, chuối, thanh long…
Bên cạnh làm “phụ tá” đắc lực cho hệ tiêu hóa, chất xơ trong đậu bắp còn giúp giảm cân nhờ sinh ít năng lượng (một chén đậu bắp chứa khoảng 30 kcal). Vì vậy, những ai đang “lên lịch” giảm cân nên đưa đậu bắp vào danh sách các món ăn. Tốt nhất là dùng một chén đậu bắp hấp chấm chao hoặc kho quẹt trước khi dùng cơm. Điều cần nhớ khi chế biến các món đậu bắp là chỉ nấu chín tới, không để quá lâu vì có thể mất hết sinh tố. Đậu bắp là món ăn sống ngon không kém ăn chín, song khi mua nên chọn đậu bắp nhỏ, có bề mặt mịn màng, không tì vết, ăn sẽ ngon hơn và giàu dinh dưỡng hơn loại đậu bắp lớn. Nhớ rửa sạch vì lông tơ trên vỏ đậu bắp khiến thuốc trừ sâu dễ bám. Để có rau sạch, nên trồng đậu bắp, vì đây là cây dễ trồng, sống được ở những nơi nắng gắt, đất không màu mỡ, rất sai trái.
Bên cạnh những công dụng có lợi nêu trên, “khuyết điểm” của đậu bắp là làm “lạnh” bụng. Những ai hay bị đau bụng, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, không nên dùng loại rau này.
Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011
PHƯƠNG THUỐC THIÊN NHIÊN: Bài thuốc từ cà tím
Món ăn bài thuốc từ cà tím
Có một số cách dùng cà tím làm món ăn chữa bệnh.
Theo Đông y, cà tím (còn gọi là cà dái dê) có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu viêm, tiêu ung, nên được sử dụng trong chữa trị các chứng như ung nhọt, lở loét, chốc lở ngoài da. Tai của quả cà tím cũng dùng nấu lấy nước uống để chữa ung nhọt, lở loét. Cà tím còn có tác dụng lợi tiểu thông mật, nhuận gan, đề phòng xơ vữa động mạch do tác dụng làm giảm cholesterol.
Dùng cà tím nấu canh gà. Cách làm: gà tơ 1 con, cà tím 200g, vị thuốc sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu ăn, gia vị. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Bắc chảo lên bếp, cho dầu vào đến khi nóng thì cho gừng, hành vào phi thơm, cho gà vào xào sơ qua. Tiếp đó, đổ nước vào, cho cà, sơn tra, gia vị vào, nấu với lửa lớn đến sôi, rồi hạ lửa nhỏ nấu thêm đến chín nguyên liệu. Mỗi ngày dùng một lần, có tác dụng tiêu thực, giảm mỡ.
Hạ huyết áp
Dùng 3 quả cà tím, thịt heo nạc xay 200g, nước sốt cà chua 15 ml, dầu ăn, gia vị. Cà tím bổ làm đôi theo chiều dọc, bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo nước. Sau đó nhồi nhân thịt heo (đã trộn gia vị), rồi đem rán vàng, phi hành, rồi cùng sốt cà chua để om quả cà tím.
Hoặc dùng cà tím 200g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10g, dầu mè, nước tương. Cà rửa sạch, cắt miếng, hành cắt khúc, gừng cắt lát, tỏi bỏ vỏ. Bắt chảo nóng cho dầu vào, khi dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm, rồi cho cà vào trộn đều, cho nước vào, nêm gia vị xào đến chín. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết.
Trị viêm gan, táo bón
Cà tím trộn gạo đem nấu cơm dùng trong 5-7 ngày đối với chứng viêm gan. Còn táo bón, dùng cà tím nửa kg, gừng tươi 4 lát, tỏi một ít. Cà cắt dọc, tỏi và gừng giã nhuyễn. Tất cả trộn với nước tương, dầu, muối, đường, đem chưng cách thủy để dùng.
Phòng ngừa ung thư
Cà tím 2 quả, cắt khúc, thịt ba chỉ 150g cắt miếng, rau tía tô, rau mùi tàu, lá lốt thái nhỏ, hành cắt khúc, tỏi thái nhỏ, cùng gia vị. Sau khi nấu cà cùng thịt chín mềm thì cho các nguyên liệu trên vào, nêm nếm gia vị, đảo đều, lấy ra dùng nóng.
Những người đi tiểu ra máu, đại tiện ra máu hay lỵ ra máu, có thể lấy rễ và cuống của quả cà tím nấu lấy nước uống.
Lương y Hoài Vũ
Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011
PHƯƠNG THUỐC THIÊN NHIÊN: CÁC THẢO DƯỢC CHỮA LÀNH TỔN THƯƠNG
CÁC THẢO DƯỢC CHỮA LÀNH TỔN THƯƠNG
(Thường dùng nhất khi sơ cứu)
Những dược thảo dưới đây có những dược tính y học rất tốt, có công dụng như: chữa lành vết thương, chất se chống nhiễm trùng, tẩy uế, kháng sinh, được dùng dưới dạng đắp trong nhiều trường hợp.
(Thymus Vulgasis)
Thuốc bổ cùng với chất chống nhiễm trùng, chống viêm nhiễm và diệt nấm (Chi tiết ở bài Húng tây).
CÂY KHUYNH DIỆP (Eucalyptus globulus)
Chống vi trùng cho vết thương và vết bỏng, tẩm gạc để băng ép làm giảm đau cơ.
Lá thuốc long đờm rất hữu hiệu, loại trừ sung huyết và đờm ở phổi, chống bệnh lao.
Chống virus, uống thay cho trà hạ thấp lượng đường trong máu.
HOA CÚC DẠI (Chammaemelum nobile)
Có tác dụng chống các chứng bệnh về tiêu hóa, làm dịu hệ thống thần kinh, viêm thanh quản, để lại trên da và tóc cảm giác rất dễ chịu, chống viêm và sát trùng.
GỪNG (Zingiber Officinal)
Gừng chặn buồn nôn, xông hơi giúp chống nhiễm trùng phổi. Trà gừng trị chứng không tiêu bởi vì nó có tính kiềm cao, nó giúp chống lại chứng axit trong dạ dày, giúp giảm nhẹ những khó chịu do kích ứng và sát trùng rất tốt.
HOA LẠC TIÊN
Dược thảo chống mỏi mắt và kích ứng mắt cũng như thị lực. Trà làm từ lá có tác dụng như thuốc an thần, thuốc giảm đau và chống mất ngủ, lo lắng, hạ huyết áp.
Chặn đứng các cơn co cơ do hen suyễn hoặc động kinh, giảm kích ứng đường ruột, làm lành các vết bỏng và viêm tấy da.
CÂY MỒ HÔI (Borago officinalis)
Hạn chế các chứng đau răng miệng (viêm nướu và loét do lạnh), cổ họng và mắt.
Trà dược thảo này có thể giúp giảm stress, chống trầm uất cũng như hạ sốt, giảm sưng tấy trong các trị liệu dùng cortison.
CÂY CỎ THỊ (Achilea millefolium)
Trà hoa cỏ thị giúp dễ tiêu hóa, giúp làm sạch đường ruột, có công dụng lợi tiểu cũng như hạ huyết áp.
Giúp vết thương và vết trầy xước mau lành.
ĐÀN HƯƠNG TRẮNG (Santalum album)
Sát trùng làm se vết thương, hữu dụng trong chăm sóc và bảo vệ da.
Thuốc long đờm, giảm đau, chống cảm lạnh và đường tiết niệu không ổn định.
CÂY BỒ CÔNG ANH TRUNG QUỐC (Taraxacum sec)
Sát trùng, trị vết nám da. Chống bệnh sco-but (bệnh của máu do thiếu vitamin C), tốt cho dạ dày, có tác dụng lọc và lợi tiểu. Dược thảo này có tác dụng lọc máu và gan, kích thích sản xuất mật.
Có tác dụng tăng cường chức năng của tuỵ, dạ dày và thận. Tác dụng hữu hiệu với các lọai bệnh như viêm gan, bệnh gút (giảm axit uric), bệnh thấp, bí tiểu, táo bón và u vú.
Thành phần: Vitamin A, B1, B2, B5, B6, B9, B12, C, E, P, niacin, PABA, cholin, inositol, biotin và các chất khóang như canxi, sắt, magiê, phốt pho, kali, axit linoleic.
CÂY XÔ THƠM (CÂY NGẢI TRẮNG) (Salvia officinalis)
Cây xô thơm có đặc tính y học rất cao điều trị và tăng lực như: chất làm se, tăng tiết mồ hôi, long đờm, tăng lực cơ, chống co thắt, trừ giun sán, lợi tiểu, chống nhiễm trùng, an thần kinh, kích thích tiêu hóa.
Cây xô thơm thuộc họ hoa môi, giúp ngăn chặn các bệnh như bệnh thấp, đau dây thần kinh, xuất huyết, bệnh gan và cải thiện răng và hơi thở. Theo tiến sĩ Jethro Kloss nêu trong sách “Trở về
Cây xô thơm giúp ngừng chảy máu ở các vết cắt, làm mau lành các vết thương và vết trầy xước, đồng thời chống nhiễm trùng.
Khi phối hợp nhân sâm với cây xô thơm, tác dụng của mỗi thứ đều sẽ tăng lên gấp bội.
CÂY MAN VIỆT QUẤT (Vaccinium oxycoccos)
Cây man việt quất thuộc họ dâu. Đặc điểm chính của nó là chứa rất nhiều bioflavonoid (antocyanozid)
Một số ứng dụng nước ép từ quả với chất antocyanozid:
- Ổn định và tăng cường collagen.
- Ngăn ngừa cục đông máu.
- Ngăn ngừa rối loạn mạch máu.
- Ngăn ngừa loét.
- Hiệu lực chống oxy hóa cao.
- Bình thường hóa thẩm thấu mao mạch.
- Chống tăng nhãn áp và đục nhân mắt, tăng cường thị lực.
- Chống viêm nhiễm.
- Hạ thấp lượng đường trong máu.
Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011
PHƯƠNG THUỐC THIÊN NHIÊN: HUYẾT ÁP CAO
HUYẾT ÁP CAO
Huyết áp cao là hiện tượng tăng áp suất trong mạch máu. Khi số đo áp lực máu là 130/80mmHg đối với người dưới 50 tuổi hoặc 150/95mmHg đối với người trên 50 tuổi là huyết áp cao.
- Nhức đầu.
- Mất ngũ.
- Các chứng bệnh về tim.
- Các chứng bệnh về thận.
- Khó thở.
- Tiếng ồn trong tai.
- Nhìn mờ.
- Thường chảy máu mũi và mắt.
Tuy nhiên có thể xẩy ra tăng huyết áp mà không có những triệu chứng như trên. Đó cũng là lý do mà bệnh còn có biệt danh “Kẻ ám sát thầm lặng”.
Nguyên nhân:
Có nhiều nguyên nhân thực thể cũng như tâm lý.
Các nguyên nhân thực thể như: vữa xơ động mạch, xơ cứng động mạch, các chứng bệnh về thận (nhiễm trùng), cũng như tắc động mạch. Các nguyên nhân liên quan khác là do di truyền, béo phì, dùng quá nhiều muối (vì muối giữ ứ dịch), hút thuốc lá, uống rượu, dùng quá nhiều cà phê và trà, thuốc tránh thai.
Các nguyên nhân tâm lý thường đi kèm là do buồn, căng thẳng, mất cân bằng trạng thái tâm lý. Căng thẳng tâm lý tác động đến mạch máu, làm chúng co lại, do đó gây tăng áp lực trong mạch (đó cũng là lý do tạo sao trở nên tái nhợt khi lo sợ). Những người có mức độ căng thẳng cao nên thay đổi cách sống, loại trừ những lo lắng và căng thẳng, thay đổi dinh dưỡng và tập luyện thể dục mỗi ngày.
Gợi ý cách chữa trị:
Ăn nhạt, hạn chế ăn cacbon hydrat cũng như các loại muối khác.
Bổ sung canxi, kali và vitamin D vì các chất này giúp cơ thể phân giải lượng muối natri tồn đọng trong cơ thể.
Bổ sung vitamin C, A, E và tập thể dục mỗi ngày.
Dùng tỏi rất hữu ích cả tỏi tươi lẫn viên nén không còn mùi.
Lecithin: Thành phần này giúp làm tan cục máu đông bám trong tĩnh mạch, nhũ hóa mỡ và cholesterol, sau đó đưa mỡ đến gan để chuyển hóa.
Lưu ý: Chúng tăng huyết áp là “Kẻ ám sát thầm lặng”, bởi vì khi khởi phát nó không có triệu chứng khó chịu nào, tuy nhiên khi áp suất máu tăng liên tục, sẽ bắt đầu tổn hại đến các cơ quan như tim, vì bắt tim phải làm việc quá mức.
| Liều nên dùng mỗi ngày cho người lớn | ||
| Bổ sung cần thiết | Liều nên dùng hàng ngày | Lưu ý |
| 1. Tỏi và Lecithin Xem chi tiết: (http://huynhvanlong-suckhoelavang.blogspot.com/2011/06/loi-ich-tu-toi.html) | 3 viên nang mỗi ngày, bữa ăn uống 1 viên. | Tăng cường tuần hoàn, làm chắc thành mao mạch, ngăn chặn hình thành và hòa tan các cục máu đông. |
| 2. Omêgia 3 và 9 Xem chi tiết: (http://huynhvanlong-suckhoelavang.blogspot.com/2011/06/loi-ich-tu-dau-ca.html) | 6 viên nang mỗi ngày, mỗi lần 2 viên trước bữa ăn. | Chức các axít béo không no đa liên kết EPA, GLA, Omega 9. Tăng cường tuần hòa máu, làm tái tạo mạch máu và tuần hoàn máu lên não tốt hơn. |
| 3. Beta caroten + vitamin E + selen Xem chi tiết: (http://huynhvanlong-suckhoelavang.blogspot.com/2011/08/tot-cho-da-toc-xuong-va-mat.html) | 3 viên nang mỗi ngày, uống 1 viên trước mỗi bữa ăn. | Là chất chống oxy hóa, chất chống đông máu, làm giãn thành mạch máu, cải thiện tuần hoàn, làm chắc thành mao quản, ngăn chặn và làm tan cục máu đông. |
| Hỗ trợ thêm | ||
| 4. Nước ép lô hội Xem chi tiết: (http://huynhvanlong-suckhoelavang.blogspot.com/2011/08/nuoc-uong-dinh-duong-aloe-vera-gel-ma.html) | 120 – 180 ml mỗi ngày, uống 60 – 90 ml trước mỗi bữa ăn. | Chống viêm, tái tạo tế bào, bổ sung năng lượng và dinh dưỡng cho cơ thể. |
| 5. Khoáng chất tổng hợp: kẽm, canxi, magiê, mangan… Xem chi tiết: (http://huynhvanlong-suckhoelavang.blogspot.com/2011/08/vien-bo-sung-dinh-duong-forever-nature.html) | 4 - 6 viên mỗi ngày, mỗi bữa ăn 2viên. | Cần thiết cho cấu tạo và chức năng của các bộ phận và hệ thống trong cơ thể. Sẽ có hiệu quả hơn nên dùng chung vitamin. |
| 6. Viatamin C Xem chi tiết: (http://huynhvanlong-suckhoelavang.blogspot.com/2011/08/thai-oc-to-tang-cuong-suc-e-khang.html) | 3 - 6 viên mỗi ngày, mỗi bữa ăn 1 – 2viên. | Viatamin C giải độc tố, chống oxy hóa mạnh và tăng cường hệ thống miễn dịch. |
| 7. Nhân sâm Xem chi tiết: (http://huynhvanlong-suckhoelavang.blogspot.com/2011/06/loi-ich-tu-nhan-sam.html) | 4 viên mỗi ngày, trước bữa ăn 20 phút uống 1 viên. | Chứa vitamin B. Giúp ngăn chặn lo lắng và căng thẳng tâm lý. |
Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011
CHĂM SÓC SỨC KHỎE: CÁC MÓN ĂN KỴ NHAU
CÁC MÓN ĂN KỴ NHAU
Nào, hãy cùng nhẫm đọc thuộc bài thơ dưới đây nhé!
Mật ong, sữa, sữa đậu nành,
Ăn cùng tắc tử, phải đành xa nhau!
Gan lợn, giá, đậu nực cười,
Xào chung, mất sạch bổ tươi ban đầu!
Thịt gà kinh giới kỵ nhau,
Ăn cùng một lúc, ngứa đầu phát điên!
Thịt dê, ngộ độc do đâu?
Chỉ vì dưa hấu, xen vào bữa ăn!
Ba ba ăn với dền, sam
Bụng đau quằn quại, khó làm cho nguôi!
Động kinh chứng bệnh rành rành,
Là do thịt lợn, rang chung táo Tàu!
Chuối hột ăn dưới mật, đường,
Bụng phình, dạ trướng, dọc đường phân rơi!
Thịt gà, rau cải có câu,
Âm dương, khí huyết thoát vào hư vô!
Trứng vịt, lẫn tỏi than ôi,
Ăn vào chắc chết, mười mươi rõ ràng!
Cải thìa, thịt chó xào vô,
Ăn vào, đi tả, hôn mê khó lường!
Sữa bò, cam quýt, bưởi, chanh,
Ăn cùng một lúc, liên thanh sấm rền!
Quả lê, thịt ngỗng thường thường,
Ăn vào cơ thể đùng đùng sốt cao!
Đường đen pha sữa đậu nành,
Đau bụng, tháo dạ, hoành hành suốt đêm!
Thịt rắn, kỵ củ cải xào,
Ăn vào, sao thoát lưỡi đao tử thần!
Nôn mửa, bụng dạ không yên,
Vì do hải sản ăn liền trái cây!
Cá chép, cam thảo, nhớ rằng,
Ăn chung, trúng độc, không cần hỏi tra!
Nước chè, thịt chó no say,
Thỉnh thoảng như thế, có ngày đi luôn!
Chuối tiêu, môn, sọ phiền hà,
Ruột đau quằn quại, như là dao đâm!
Khoai lang, hồng, mận ăn vô,
Dạ dày viêm loét, tổn hư tá tràng!
Giàu vitamin C chớ có tham (1)
Nấu cùng ốc hến, cua, tôm, nghêu, sò!
Ăn gì! Ăn với cái gì?
Là điều cần nhớ, nên ghi vào lòng!
Chẳng may ăn phải, vài giờ?
Chúng tạo chất độc bảng A chết người!
Quý nhau mời tiệc lẽ thường!
Thức ăn tương phản, trăm đường hại nhau!
Huỳnh Văn Long – Sưu tầm
Chú thích:
(1) Các loại thực phẩm giàu vitamin C không được nấu, ăn cùng các loại nhuyễn thể, hải sản.
Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011
CHĂM SÓC SỨC KHỎE: Những gia vị có công dụng chữa bệnh rất tốt
Báo Sức Khỏe và Đời Sống
Rau củ gia vị không chỉ giúp món ăn thơm ngon mà còn là những vị thuốc giá rẻ, lành tính, luôn có sẵn trong nhà bạn. Chúng tôi sẽ cùng bạn tìm hiểu thêm công dụng của chúng nhé.
Trong gian bếp của mỗi bà nội trợ chắc chắn không thể thiếu được các loại gia vị: tỏi, ớt, gừng, nghệ và hạt tiêu. Trái ớt bé nhỏ giúp bạn ấm bụng, kích thích tiêu hóa. Vài hạt tiêu xay nhỏ cũng có tác dụng hạn chế tiêu chảy, kích thích bạn ăn ngon miệng. Một nhánh quế trong thức ăn rất tốt cho tim mạch, tăng cường trí nhớ.
Thế còn tỏi, gừng, nghệ, sả, hành thì sao?
Theo Đông y, hành thuộc tính bình, vị hơi cay, không độc, có tác dụng trị cảm gió, đau đầu, giúp lưu thông khí huyết và kích thích tiêu hóa.
• Khi bạn bị cảm lạnh, bạn đừng quên dùng món cháo hành giải cảm theo công thức: 10g hành hoa, 10g tía tô thái nhỏ, đánh đều cùng cháo trắng, lòng đỏ trứng gà, ăn ngay khi còn nóng.
• Trị cảm sốt nhức đầu, bạn dùng: 30g hành củ, 20g gừng tươi, 8g chè búp khô, 6g tía tô, sắc với nước uống, dùng nóng, uống ngày 2 lần.
• Nếu bé bị viêm mũi, ngạt mũi, thở không thông, bạn có thể sắc 20g hành, lấy nước cho bé uống hoặc dùng tăm bông chấm nước này lau bên trong lỗ mũi cho bé.
• Củ hành nướng chín, nhã nhuyễn, đắp ngay khi còn nóng, có tác dụng chữa khỏi mụn nhọt.
• Phụ nữ bị động thai, ra máu: dùng 20g hành củ giã nát, ăn cùng cháo nếp khi còn nóng.
Nghệ
Nghệ thường được dùng để khử mùi tanh khi chế biến thực phẩm. Nghệ cũng có tác dụng làm mờ sẹo, bồi bổ sức khỏe cho phụ nữ mới sinh. Với vị cay, hơi đắng, tính ôn và không gây độc, củ nghệ còn được sử dụng trong một số bài thuốc dân gian:
• 10g bột gạo và 10g bột nghệ trộn cùng sữa chua thành hỗn hợp, dùng đắp mặt nạ, có tác dụng làm sạch da, giúp da săn chắc, trắng và mịn màng.
• Uống 20 giọt nước nghệ hòa với muối vào buổi sáng, trước khi ăn giúp bạn trị chứng giun sán.
• Bạn có thể làm giảm chứng thiếu máu bằng cách uống nước cốt nghệ hòa với mật ong liên tục trong một tuần.
Sả
Thân và lá sảđều có mùi thơm, vị cay nồng, thường được dùng kết hợp để chữa bệnh về tiêu hóa, ho, cảm sốt.
• Chữa tiêu chảy: 10g rễ sả, 8g búp ổi, 8g củ riềng già, thái nhỏ, sao qua, sắc đặc uống.
• Dùng nước lá sả đun sôi, tắm hàng ngày bạn sẽ chữa được mụn nhọt.
• Nồi nước sông gồm: lá sả, lá tre, lá bưởi, lá tía tô, lá kinh giới, ngải cứu giúp giảm đau đầu, cảm cúm.
• Phụ nữ có thai nên dùng củ sả băm nhỏ, hãm cùng nước sôi để ngừa cảm giác buồn nôn.
• Một bó sả giã nát, pha cùng nước lọc, có công dụng giải độc rượu. Những người say rượu uống nước này sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.
• Bạn có thể đập giập củ sả đặt ngoài cửa sổ hoặc dùng vài giọt tinh dầu sả pha vào nước, phun trong nhà có thể xua đuổi côn trùng và khử mùi hôi.
Tỏi
Tỏi có chứa nhiều phytonxit, một loại thuốc kháng sinh thực vật với nhiều công dụng trị bệnh. Các bài thuốc từ tỏi được dùng dưới nhiều hình thức khác nhau như dùng sống, qua chế biến thức ăn, ngâm rượu hay giấm.
• Chữa đau bụng, đầy bụng, khó tiêu: Bạn dùng nước ép của 2-3 tép tỏi pha cùng nước lọc dùng trong ngày.
• Chữa đau răng: Bạn dùng tỏi sống giã nát, thoa quanh chỗ đau.
• Chữa cúm: Tỏi bóc vỏ, giã nhuyễn, ngâm trong nước lọc hoặc rượu trắng, lọc bỏ bã. Bạn có thể dùng nước này để nhỏ vào mũi hoặc ngậm trong miệng ngày 2-3 lần để nhanh khỏi bệnh.
• Viêm họng, ho: Bạn có thể ngâm tỏi vào giấm trắng khoảng 30 ngày, sau đó cắt lát và ngậm để chữa ho.
• Chữa thấp khớp: Tỏi để nguyên vỏ, chẻ đôi, ngâm với rượu theo tỷ lệ 100g tỏi, 200g ml nước trong 3 tháng. Sau đó, bạn chắt lấy nước, dùng để xoa bóp chỗ đau trước khi đi ngủ.
Tuy nhiên, ăn quá nhiều tỏi có thể gây ra bệnh đau dạ dày. Bạn không nên ăn tỏi khi đói và quá 10g/ ngày.
Gừng
• Giảm đau các khớp xương: Người bệnh có thể uống nước gừng, đắp bã gừng, ngâm tay, chân trong nước gừng loãng từ 15- 20 phút trước khi đi ngủ. Cách này không chỉ giúp các khớp xương giảm đau mà còn giúp người bệnh ngủ sâu.
• Chống nôn: Ngậm gừng tươi hoặc uống trà gừng giúp giảm say xe, lạnh bụng.
Lưu ý khi lựa chọn và bảo quản các loại gia vị:
• Hành và tỏi: chọn những củ có tép đều (với tỏi), sờ cứng tay, đầu củ khô, không bị mối mọt.
• Gừng, nghệ: chọn củ còn tươi vỏ, nhiều nước, cất trong ngăn mát tủ lạnh, có thể dùng được trong 10 ngày.
• Bạn lưu ý không sử dụng hành cùng lúc với mật ong, vì đây là hai món kỵ nhau. Người bị nóng, nhiệt miệng, táo bón cũng không nên dùng gừng khô.
Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2011
CHĂM SÓC SỨC KHỎE: Tập luyện ở người cao tuổi
Theo báo Sức Khoẻ
Đi bộ và chạy chậm
Đi bộ chữa bệnh có khối lượng vận động thấp.
Được xem như mức độ ban đầu, là sự chuẩn bị trước khi bước vào tập chạy. Đi bộ thích hợp với người có tuổi, giúp họ dễ dàng xác định hướng vận động theo tốc độ và quãng đường đi. Một người đi bộ 2 giờ trên quãng đường bằng phẳng với tốc độ 3,9km/giờ sẽ tiêu hao 696kcal.
Thông thường, quy ước theo tần số bước là: 100 bước/phút là chậm; 120 bước/phút là trung bình, trên 120 bước/phút là nhanh.
Khi bắt đầu tập đi bộ chữa bệnh, chỉ nên đi khoảng 1 – 2km. Sau một thời gian tăng dần lên, mỗi ngày tăng khoảng 100m. Yêu cầu cần đạt là sau khi tập cảm thấy khoan khoái. Nếu thấy mệt hơn tức là đã đi quá mức độ cho phép.
Chạy chậm, nhẹ nhàng tại chỗ
Là bộ phận rất quan trọng trong thể dục chữa bệnh, có thể thay thế nhiều hình thức luyện tập chữa bệnh khác.
Bắt đầu có thể thực hiện như sau: chạy tại chỗ từ 30 giây – 1 phút, chạy 3 lần trong ngày, mỗi lần tăng thêm 10 giây. Thời gian vận động tối đa từ 10 – 15 phút, chạy 3 lần trong ngày.
Luân phiên giữa đi bộ và chạy chậm nhẹ nhàng
Nội dung cơ bản của phương pháp này là luyện tập với cường độ vận động khác nhau, thích hợp với người có tuổi và sức khỏe trung bình. Bắt đầu chạy chậm, nhẹ nhàng khoảng 200m, sau đó đi bộ cũng khoảng 200m rồi lại tiếp tục chạy, cứ như vậy luân phiên xen kẽ. Toàn bộ quãng đường chạy không vượt quá 1.000 – 1.500m.
Chạy chậm nhẹ nhàng
Áp dụng cho những người tương đối khỏe mạnh, ít nhiều đã có sự chuẩn bị thể lực từ trước. Có thể tập mỗi tiần 3 buổi, mỗi buổi 30 phút với tốc độ 7km/giờ; hoặc tập mỗi buổi sáng với thời gian ít hơn, khoảng 15 phút. G. Hinmo xác nhận rằng tập chạy chậm, nhẹ nhàng liên tục, thường xuyên mỗi ngày 15 – 30 phút trong thời gian 12 – 18 tháng sẽ làm tính đàn hồi và thể tích của mạch máu tăng lên gấp đôi.
Tập thở đều
Khối lượng không khí hít vào, thở ra mỗi ngày rất lớn, khoảng một vạn lít, nếu lao động có thể tăng lên gấp đôi, gấp ba. Muốn cho máu có nhiều oxy nuôi dưỡng cơ thể, nhất là não, cần phải chú ý đến vấn đề thở tốt, nghĩa là đảm bảo.
Không khí trong lành
Không khí ô nhiễm, đặc biệt ở các đô thị tập trung, thành phố công nghiệp thường chứa nhiều mầm bệnh. Bởi vậy, cần tránh tập thở ở môi trường ô nhiễm. Khi làm việc và sinh hoạt trong môi trường ô nhiễm, phải hết sức bảo vệ đường hô hấp và không nên ở đó lâu.
Khi tập thở, nên chọn địa điểm và lúc có không khí trong lành, tốt nhất là ở nơi quang đãng, có vườn hoa cây cỏ, gần thiên nhiên vì có lợi cho hệ thần kinh trung ương. Các “Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời” do biết tận dung những nơi không khí trong lành nên đã thu được nhiều kết quả tốt. Niềm tự hào của một thành phố văn minh là có các công viên sạch đẹp, nơi mọi người dân su giờ làm việc có thể đến tịnh dưỡng tinh thần và tập luyện, phục vụ sức khỏe.
Phải thở bằng mũi
Trong mũi có nhiều lông nhỏ. Bụi bặm, vi khuẩn trong không khí qua lỗ mũi đều bị các lông đó giữ lại, sau đó được đẩy ra ngoài cùng với đờm và chất nhầy ở mũi.
Mặt khác khí trời lạnh ở bên ngoài khi qua đến phổi đã được mũi sưởi ấm. Nhờ vậy ít gây viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi. Nếu thở bằng mồm, sẽ thiếu hàng rào bảo vệ nói trên nên dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp, nhất là vào mùa lạnh. Cũng để tránh các bệnh hô hấp về mùa lạnh và ẩm, ta cần tập thở quanh năm. Tập thở đều từ lúc còn khỏe mạnh, từ tuổi trung niên và tốt hơn nữa là từ lúc còn trẻ.
Tập thở sâu
Mỗi phút ta thở khoảng 15 lần. Khối lượng không khí trao đổi mỗi lần thở khoảng chừng 1/2 lít. Nếu thở sâu, khối lượng không khí trao đổi có thể tăng gấp 4 – 5 lần lúc thở thường.
Thở sâu ảnh hưởng tốt đến hệ tuần hoàn vì làm tăng việc trao đổi khí giữa máu và không khí bên ngoài, giúp tom co bóp tốt hơn. Máu vào động mạch não, vành nhiều hơn; Máu tĩnh mạch trở về tim dễ hơn. Thở sâu cũng ảnh hưởng tốt đến hệ thần kinh do não được cung cấp nhiều oxy, hoạt động tâm thần ở thần kinh được tốt hơn.
Trong việc thở, cần chú ý nhiều đến thì thở ra, vì ở người có tuổi hay có hiện tượng ứ không khí ở các phế nang làm tăng khối lượng không khí cặn, giảm việc đưa oxy từ phổi vào máu.
Cần xây dựng thói quen thở sâu trong mọi trường hợp có thể được, như lúc luyện tập, đi dạo, lúc ở nhà, ngồi làm việc… Miễn là không khí ở đó không quá ô nhiễm.
Thở bụng theo phương pháp khí công
Có thể thực hiện theo từng động tác sau:
Ngồi ghế, thả lỏng bàn tay, không nhúc nhích hai vai. Miệng thở ra nhẹ, rất chậm; thót bụng để thở ra. Khi bụng thót hết, ngừng thở cho bụng phình lại rồi nhẹ nhàng thở vào. Khi bụng phình lên hết, ngừng một tí rồi thở ra. Thực hiện 4 – 5 phút như vậy.
Với động tác thót bụng, lúc đã quen rồi không cần không khí qua miệng nữa. Sau đó chỉ thở qua mũi, ra vào đều qua mũi.
Tập thở như vậy trong các tư thế: nằm ngửa (hai chân gấp), nằm nghiêng một bên, nằm sấp, đứng thõng tay phía trước.
Cho bụng thót vào, phình ra thật nhanh.
Thót bụng đến cùng, sau đó dùng các cơ sườn kéo lồng ngực lên nhưng không cho không khí vào phổi. Bụng sẽ thót đến mức tối đa.
Nhờ một người nắm tay thành quả đấm ấn mạnh vào bụng, giữ mạnh không cho tay người ấy ấn sâu vào bụng, đó là tập thở nén.
Co rút cơ bụng bên phải, rồi bên trái thành một động tác xoắn bụng.
Những người còn yếu chỉ tập 3 động tác đầu. Những người bệnh nặng hơn chỉ tập 2 động tác đầu.
Thực hành tự xoa bóp
Tự xoa bóp vùng đầu, mặt, cổ
Bộ não và các giác quan phần lớn nằm ở vùng đầu mặt. Các bộ phận cơ yếu này cần được vận động để quá trình tuần hoàn lưu thông, điều hòa, làm tròn những chức năng của nó. Thế nhưng trong đời sống hàng ngày, vùng đầu mặt thường ít vận động hơn chân tay, vì thế tự xoa bóp vùng đầu mặt là một phương pháp dưỡng sinh quan trọng nhằm thúc đẩy đầu óc minh mẫn, mắt tinh, tai thính, nước bọt tiết nhiều, ăn uống ngon miệng dễ tiêu. Đặc biệt xoa bóp vùng này rất cần thiết đối với những người làm việc nhiều bằng trí óc.
Buổi sáng dậy hay trước khi đi ngủ, lấy hai bàn tay làm lược chải từ trước trán ra sau gáy khoảng 10 lần rồi gãi nhẹ vào chân tóc khoảng 5 lần. Dùng lòng bàn tay vò nhẹ vào đỉnh đầu khoảng 10 cái, vuốt từ trán ra thái dương, vòng sau vành tai, tới 2 bên gáy khoảng 5 lần. Làm như vậy sẽ thấy bớt nặng đầu và tỉnh táo.
Dùng ngón trỏ và ngón cái véo từ đầu tới đuôi lông mày khoảng 5 lần. Các cơ rất nhỏ của mắt được vận động sẽ lâu mỏi hơn.
Co ngón tay cái lại, lấu mu của đốt hai ngón cái xát khoảng 10 lần hai bên sống mũi, day huyệt nghinh hương (ở sát chân cánh mũi 10 lần), day chóp mũi khoảng 10 cái; có thể giúp dễ thở, đỡ ngạt mũi hơn khi thay đổi khí hậu.
Răng hàm dưới gõ lên răng hàm trên khoảng 10 lần. Dùng ngón trỏ xát da bọc ngoài hàm trên và hàm dưới khoảng 10 cái. Khi rửa mặt lấy khăn lót ngón tay trỏ xát thẳng vào lợi. Như vậy chân răng sẽ được củng cố, phòng được bệnh răng miệng. Đưa đầu lưỡi lia bên ngoài hàm trên và hàm dưới rồi lia bên trong và hàm dưới khoảng 5 lần, nuốt nước bọt tiết ra; có tác dụng gây cảm giác thèm ăn và kích thích tiêu hóa.
Lấy lòng bàn tay áp vào lỗ tai rồi buông ra đột ngột khoảng 10 lần. Vẫn lấy lòng bàn tay áp vào lỗ tai, bật các ngón tay vào xương chẩm sau gáy khoảng 10 lần; xoa bóp vành tai, véo vành tai khoảng 5 lần; có tác dụng phòng chứng ù tai, nặng tai.
Rửa mặt khô bằng bàn tay sạch, xát vào nhau cho ấm, nhắm mắt lại, hai bàn tay xát mạnh từ trán xuống cằm và ngược lại, xoa từ trán ra hai bên thái dương xuống gò má, hàm dưới và cằm khoảng 10 lần. Hai bàn tay đan các ngón vào nhau, day qua gáy khoảng 10 lần, phòng được mỏi, vẹo cổ. Có thể kết hợp xát cổ từ trên xuống dưới khoảng 15 lần, day huyệt thiên đột ở chỗ lõm trên xương ức.
Tự xoa bóp thân mình
Dùng lòng bàn tay vuốt ngực từ yếu hầu xuống quá mỏ ác khoảng 10 lần. Úp bàn tay vào giữa hai núm vú, bàn tay kia đặt chồng lên xoa khắp ngực theo chiều kim đồng hồ khoảng 20 vòng.
Một bàn tay nắm lại đặt vào vùng bụng dưới, bàn tay kia chồng lên xoa theo chiều kim đồng hồ khoảng 40 vòng. Cũng xoa bụng trên như thế. Tác dụng giúp bụng đỡ đầy trướng, táo bón.
Tự xoa bóp chân tay
Ngồi duỗi hai chân, xoa từ mông đùi đến cổ chân, từ trên xuống rồi từ dưới lên khoảng 20 lần. Day hai đầu gối theo chiều kim đồng hồ khoảng 20 lần. Xoa hai bàn chân vào nhau, cả mu và lòng bàn chân khoảng 20 lần. Tác dụng làm giảm mệt mỏi cơ bắp do phải đi đứng lâu hoặc nằm ngồi một chỗ lâu.
Bàn tay nọ nắm lấy bàn tay kia xoa xát cả lòng bàn tay và mu bàn tay khoảng 20 lần, rồi xoa bóp từ vai xuống cổ tay và ngược lại khoảng 20 lần. Làm như thế để thúc đẩy tuần hoàn máu nuôi dưỡng chi trên, tăng sức khỏe, độ dẻo dai, nhất là đối với những người phải viết nhiều và cần các động tác khéo léo.
Sau xoa bóp, nếu có điều kiện có thể thực hiện một số động tác thể dục, chạy kết hợp với thở sâu, chậm, êm, đều. Trong hoàn cảnh sống chật chội, vẫn có thể tiến hành xoa bóp để bảo dưỡng sức khỏe thường xuyên.
Tập thể dục buổi sáng và thể dục giữa giờ
Động tác 1: tập thư giãn
Nằm ngửa hoặc nằm nghiêng tự nhiên thoải mái. Theo dõi hơi thở tự nhiên của mình và nhẩm đếm liên tục từ 30 – 50 lần.
Động tác 2: tập thở bụng
Nằm hoặc ngồi thẳng, hít vào bằng mũi hoặc mồm đồng thời bụng thắt vào. Tập 10 – 20 lần.
Động tác 3: tập đầu và cổ
Đứng dậy, tay chống hông; ngửa đầu hít vào bằng mũi. Cúi đầu thở ra bằng mũi. Ngoảnh mặt vào bên trái hít vào, ngoảnh mặt vào bên phải thở ra. Nghiêng đầu về bên trái hít vào, nghiêng đầu về bên phải thở ra. Quay vòng đầu (trái sang phải) hít vào, quay vòng đầu ngược lại (phải sang trái) thở ra.
Động tác 4: tập lồng ngực
Kết hợp với thở rất sâu. Đứng thẳng, dạng chân, tay giơ cao chếch chữ V, lòng bàn tay hướng vào nhau, ưỡn ngực, ngửa mặt đồng thời hít vào từ từ và sâu bằng mũi. Hai tay ôm ngực, cúi đầu thở ra hết bằng mồm, giơ thẳng hai tay về trước, bàn tay ngửa, ưỡn ngực ngửa mặt đồng thời hít vào từ từ và sâu bằng mũi.
Động tác 5: tập tay kết hợp với thở sâu và nhịp nhành bằng mũi
Lòng bàn tay hướng vào nhau hít vào, đầu ngón tay chạm vai. Khuỷu tay sát thân, thở ra. Lòng bàn tay hướng vào nhau, hít vào, gập hai tay về vai, đầu ngón tay chạm vai, khuỷu tay ngang vai, thở ra. Dang ngang hai tay, lòng bàn tay hướng ra ngoài đồng thời hít vào. Gập hai tay trước ngực, bàn tay duỗi và úp, thở ra. Dang hai tay, bàn tay ngửa, hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Động tác 6: tập chân kết hợp với thở sâu và nhịp nhành bằng mũi
Nhắc cao đầu gối trái, hít vào. Duỗi thẳng chân trái, ngón chân quặp từ từ, đưa chân vòng qua trái về phía sau rồi kéo chân về tư thế thẳng đứng, thở ra. Kiễng hai gót chân, hít vào. Từ từ ngồi xuống, đầu gối chụm, đồng thời đưa hai tay về phía trước, bàn tay úp, thở ra. Từ từ đứng lên, hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Động tác 7: tập vặn mình kết hợp với thở sâu và nhịp nhành.
Hít vào, thở ra - trở về cử động lúc đầu đồng thời hít vào, trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Động tác 8: tập nghiêng mình kết hợp với thở sâu và nhịp nhàng.
Dạng chân trái, hai tay giơ thẳng song song về phía trước, lòng bàn tay hướng vào nhau rồi dang ngang, bàn tay ngửa, đồng thời hít vào - thở ra. Trở về cử động 1, hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Động tác 9: tập toàn thân kết hợp với thở sâu và nhịp nhành bằng mũi.
Chân phải kiểng gót, lòng bàn tay ngửa, ưỡn mình ngửa mình, hít vào. Lòng bàn tay hướng vào nhau, thở ra. Trở về cử động 1 hít vào. Trở về tư thế đứng thẳng, thở ra.
Động tác 10:
Tập đi bộ tương đối nhanh hoặc chạy thong thả một quãng ngắn, kết hợp nhịp nhàng với thở sâu (hai bước hít vào bằng mũi, hai bước thở ra bằng mũi hoặc mồm).
Trên đây là 10 động tác thể dục để người có tuổi tự tập hay tập có người hướng dẫn. Tuy nhiên, mỗi người có thể gia giảm đôi chút, cái chính là vận động từ từ, không bỏ qua một bộ phận nào của cơ thể.
Huỳnh Văn Long – Sưu tầm